Những điểm mới về thuế TNDN trong năm 2011 quy định tại thông tư 18/2011/TT-BTC
AddThis Social Bookmark Button

Kể từ khi luật thuế TNDN mới ra đời (luật số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008) cùng các văn bản cấp dưới đi kèm hướng dẫn, bổ sung; qua 2 năm thực hiện, các doanh nghiệp vẫn còn nhiều vướng mắc phát sinh khi áp dụng kê khai, quyết toán thuế. Vừa qua, ngày 10 tháng 02 năm 2011, Bộ tài chính đã ban hành thông tư 18/2011/TT-BTC “sửa đổi, bổ sung thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2008”.

Việc ra đời thông tư này đã giúp giải tỏa rất nhiều vướng mắc cho doanh nghiệp, những điểm chính của thông tư này được tóm lược lại như sau:

1. Phương pháp tính thuế TNDN:

Bổ sung quy định: “Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi kỳ tính thuế TNDN từ năm dương lịch sang năm tài chính hoặc ngược lại thì kỳ tính thuế TNDN của năm chuyển đổi không vượt quá 12 tháng” 

2. Chi phí được trừ và không được trừ:

a> Các trường hợp bất khả kháng, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh:

-  Trước đây, Bộ tài chính cho phép các trường hợp tổn thất do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn được tính vào chi phí được trừ, nhưng không hướng dẫn chi tiết điều kiện hồ sơ, thủ tục cụ thể để được trừ. Thông tư 18/2011/TT-BTC chi tiết đầy đủ các văn bản, hồ sơ doanh nghiệp cần phải thực hiện để chứng minh cho các chi phí được trừ này.

-  Bổ sung thêm trường hợp được coi là chi phí được trừ: Hàng hoá bị hư hỏng do hết hạn sử dụng, bị hư hỏng do thay đổi quá trình sinh hoá tự nhiên không được bồi thường và nằm trong định mức do doanh nghiệp xây dựng. Thông tư cũng quy định rõ ràng thủ tục và hồ sơ doanh nghiệp cần thực hiện để được coi là chi phí hợp lý.

b> Về chi phí khấu hao tài sản cố định:

- Thông tư 18/2011/TT-BTC quy định rõ ràng chi phí khấu hao trong  trường hợp TSCĐ dừng hoạt động mà trước đây các văn bản cũ không đề cập tới. Theo đó; với trường hợp dừng do sản xuất theo mùa vụ với thời gian dưới 9 tháng; dừng để sửa chữa, để di dời di chuyển địa điểm, để bảo trì, bảo dưỡng theo định kỳ, với thời gian dưới 12 tháng; sau đó TSCĐ tiếp tục đưa vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì trong khoảng thời gian tạm dừng đó doanh nghiệp được trích chi phí khấu hao và được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, doanh nghiệp phải có thông báo gửi cơ quan thuế nêu rõ lý do tạm dừng của TSCĐ chậm nhất khi nộp hồ sơ kê khai quyết toán thuế TNDN theo quy định của năm có tài sản tạm thời dừng.

- Quyền sử dụng đất lâu dài: Không được trích khấu hao vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

- Quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đầy đủ hóa đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được phân bổ dần vào chi phí được trừ theo thời hạn được phép sử dụng đất theo quy định.

- Quy định rõ cách xác định giá trị QSDĐ là TSCĐ vô hình không được trích khấu hao vào chi phí được trừ khi doanh nghiệp mua TSCĐ HH là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với QSDĐ lâu dài.

- Nếu tài sản mua của các tổ chức, cá nhân có hóa đơn GTGT tách riêng được giá trị QSDĐ thì giá trị QSDĐ ghi trên hóa đơn là TSCĐ vô hình không được trích khấu hao vào chi phí được trừ.

- Nếu tài sản mua của hộ gia đình, cá nhân không có hóa đơn GTGT thì giá trị QSDĐ là TSCĐ vô hình không được trích khấu hao vào chi phí được trừ. Giá trị QSDĐ được xác định theo giá thị trường nhưng không được thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm mua tài sản.

c> Về định mức tiêu hao nguyên liệu vật liệu:

Trước đây, theo quy định cũ thì tất cả định mức tiêu hao nguyên vật liệu do doanh nghiệp xây dựng và phải thông báo cho cơ quan thuế. Tuy nhiên, Thông tư 18/2011/TT-BTC  quy định, doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm thông báo những định mức chính của những sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp trong thời hạn 3 tháng kể từ khi bắt đầu đi vào sản xuất, kinh doanh.

d> Về chi phí mang tính chất tiền lương:

- Với các khoản tiền thưởng không mang tính chất tiền lương: Khác với trước đây, kể từ năm 2011 thì các khoản tiền thưởng cho người lao động không mang tính chất tiền lương đã được coi là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế với điều kiện là được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thoả ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng Cty, tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Cty, Tổng Cty ..

- Mức khống chế chi trang phục được tăng lên so với quy định cũ trước đây: Kể từ năm 2011 là không vượt quá 05 triệu đồng/người/năm (cả bằng tiền hoặc hiện vật).

e> Về việc trích lập 17% quỹ dự phòng tiền lương:

- TT 18  bổ sung thêm việc trích lập dự phòng tiền lương phải đảm bảo sau khi trích lập DN không bị lỗ, nếu DN bị lỗ thì không được trích đủ 17%.

- Mức trích lập phải đảm bảo nguyên tắc số tiền trích lập dự phòng cộng tổng số tiền lương, tiền công thực tế đã chi trả đến thời hạn nộp hồ sơ quyết toán không vượt quá tổng tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động theo quỹ tiền lương đã duyệt (nếu có).

f> Chi phí trước hoạt động:

Quy định mới đã gỡ bỏ vướng mắc cho doanh nghiệp khi xử lý các khoản chi phí này, theo đó: ”Khi bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chưa phát sinh doanh thu nhưng có phát sinh các khoản chi thường xuyên để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (không phải là các khoản chi đầu tư xây dựng để hình thành TSCĐ) mà các khoản chi này đáp ứng các điều kiện theo quy định thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.”

3. Xác định các khoản thu nhập khi tính thuế TNDN:

a> Thu nhập từ lãi tiền gữi, lãi cho vay vốn:

So với thông tư 130/2008/TT-BTC trước đây khi chưa rõ ràng trong việc cấn trừ từ khoản thu và khoản chi liên quan tới lãi tiền gữi và lãi cho vay vốn, thì nay thông tư 18/2011/TT-BTC đã quy định cụ thể:

- Trường hợp khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn phát sinh cao hơn khoản chi trả lãi tiền vay theo quy định, sau khi bù trừ phần chênh lệch còn lại tính vào thu nhập khác khi xác định thu nhập chịu thuế.

- Trường hợp khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn phát sinh thấp hơn khoản chi trả lãi tiền vay theo quy định, sau khi bù trừ phần chênh lệch còn lại tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

b> Các khoản chênh lệch tỷ giá:

Thay thế cho các quy định cũ trước đây trên các văn bản đã ban hành: thông tư 177/2009/TT-BTC, CV 7250 của Bộ Tài chính, nay Bộ tài chính đã quy định thống nhất trên thông tư 18/2011/TT-BTC về xử lý khoản CLTG do đánh giá lại cuối năm như sau:

-  Không được tính vào chi phí được trừ khi quyết toán cho khoản Lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư cuối năm là: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ phải thu có gốc ngoại tệ; lỗ chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản để hình thành TSCĐ mà TSCĐ này chưa đưa vào sản xuất kinh doanh

-  Khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp được tính vào chi phí hoặc thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp. Khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ không liên quan trực tiếp đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp, nếu phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá tính vào chi phí sản xuất kinh doanh chính, nếu phát sinh lãi chênh lệch tỷ giá tính vào thu nhập khác

-  Lãi chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ cuối năm tài chính  được bù trừ với lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản  nợ phải trả bằng ngoại tệ cuối năm tài chính. Sau khi bù trừ nếu còn lãi chênh lệch tỷ giá thì tính vào thu nhập khác, nếu lỗ chênh lệch tỷ giá thì tính vào chi phí sản xuất kinh doanh khi xác định thu nhập chịu thuế.

- Trường hợp chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ tính vào chi phí làm cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bị lỗ thì có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau để doanh nghiệp không bị lỗ nhưng phải đảm bảo phần chênh lệch tỷ giá tính vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ giá của số ngoại tệ đến hạn phải trả trong năm đó.


c> Thu nhập về tiêu thụ phế liệu, phế phẩm:

- Trường hợp DN phát sinh khoản thu nhập từ bán phế liệu, phế phẩm được tạo ra trong quá trình SX của các sản phẩm đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì khoản thu nhập này được hưởng ưu đãi thuế TNDN.(và ngược lại)

4. Xác định lỗ và chuyển lỗ:

Một điểm mới của thông tư 18/2011/TT-BTC so với quy định cũ trước đây đó là cho phép doanh nghiệp có số lỗ giữa các Quý trong cùng một năm tài chính thì được bù trừ số lỗ của quý trước vào các quý tiếp theo của năm tài chính đó. Khi quyết toán thuế TNDN doanh nghiệp xác định số lỗ của cả năm và chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu thuế của những năm tiếp sau năm phát sinh lỗ theo quy định nêu trên.

5. Bổ sung không tính thuế TNDN đối với khoản thặng dư vốn cổ phần:

Đề cập tới vấn đề thặng dư vốn cổ phần, thông tư 18/2011/TT-BTC bổ sung thêm quy định: ”Trường hợp công ty cổ phần thực hiện phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn thì phần chênh lệch lớn hơn giữa giá phát hành và mệnh giá được hạch toán vào tài khoản thặng dư vốn cổ phần và không tính thuế TNDN đối với khoản thặng dư vốn cổ phần”.

6. Thuế TNDN từ chuyển nhượng bất động sản:

Cụ thể hơn so với thông tư 130/2008/TT-BTC, thông tư 18/2011/TT-BTC chỉ rỏ: ”Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề có thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất; các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản có thu nhập từ cho thuê lại đất thuộc diện phải nộp thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản”.

Ngoài ra, thông tư 18 cũng sửa đổi, bổ sung cách xác định thuế TNDN trong trường hợp tổ chức tín dụng hay cơ quan thi hành án có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.

7. Ưu đãi thuế TNDN:

Kế thừa những nội dung trong công văn 7250/BTC-TCT, thông tư 18 quy định về thủ tục đăng ký dự án đầu tư để được hưởng ưu đãi thuế TNDN. Theo đó:

- Trường hợp doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư mà dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư dưới mười lăm (15) tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì hồ sơ để xác định dự án đầu tư là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

- Trường hợp doanh nghiệp  thành lập mới từ dự án đầu tư mà dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm (15) tỷ đồng Việt Nam đến dưới ba trăm (300) tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẫu tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh.

 

Comments
Add New Search
Write comment
Name:
Email:
 
Website:
Title:
UBBCode:
[b] [i] [u] [url] [quote] [code] [img] 
 
 
:angry::0:confused::cheer:B):evil::silly::dry::lol::kiss::D:pinch:
:(:shock::X:side::):P:unsure::woohoo::huh::whistle:;):s
:!::?::idea::arrow:
 
Please input the anti-spam code that you can read in the image.

3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."

Test thu
 

Tư vấn: 09666 80 900


Thuế doanh nghiệp

Stop
Play
Hiện có 30 khách Trực tuyến
tin tức pháp luật tại Tinmoi.vnbodogMua phần mềm kế toán MetaData Accounting